Sự phát triển võ thuật Việt Nam

  • 16/07/2020
  • 214

Giới nghiên cứu văn hóa thế giới quan niệm: “Muốn biết văn hóa của một dân tộc cứ nhìn vào nền võ thuật của dân tộc đó thì rõ”. Việt Nam là quốc gia độc lập, có tên trên bản đồ thế giới với những chiến công lừng lẫy: Bắc đánh Tống, Nam bình Chiêm, chiến thắng Bạch Đằng, đại phá quân Thanh…

Sự phát triển nền võ thuật Việt Nam

Từ huyền sử Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân, đến Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Nam Đế, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung …có biết bao anh hùng hào kiệt với võ công cái thế tiêu biểu cho tinh than ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Một dân tộc như thế tất phải có một nền võ thuật thượng thừa. Nền võ thuật đó đã minh chứng Văn hóa Việt Nam hội đủ tinh hoa, đáng để cho giới khoa học thế giới nghiên cứu tìm hiểu. Và cũng thật vinh dự cho Việt Nam có Trần Hưng Đạo là người đã được thế giới tôn vinh là một trong mười vị tướng tài của thế giới.

Điểm lại đôi dòng lịch sử, hào khí dân tộc, truyền thống thượng võ của nòi giống Lạc Hồng, để tự hào về công cuộc trùng hưng võ thuật của nước nhà. Để bình tâm, tĩnh trí mà tham cứu, suy xét kỹ lưỡng về đường hướng xây dựng phát triển võ thuật nước nhà, tinh hoa bản sắc văn hóa việt Nam, gìn giữ được lịch sử, cội nguồn văn hóa Việt, giữ được công trình tinh hoa của dân tộc, mà tiền nhân nhiều đời đã bỏ ra bao công sức sáng tạo ra, xây đắp lên nền văn hóa lịch sử Việt Nam hào hùng ngày nay. Để tôn vinh văn hóa Việt Nam với nhân loại quốc tế, để khỏi gây ra sự nhìn nhận, hiểu lầm, đáng tiếc về  Võ Việt Nam, môn võ có đầy đủ ngũ đại pháp: “Võ Đạo -Võ Lý -Võ Học -Võ Công -Võ Thuật” và lịch sử lâu đời với hệ thống kỹ thuật, công phu đa dạng, thực chiến, đã được kiểm chứng thực tế qua mấy ngàn năm lịch sử chói lọi chiến công của dân tộc, mà không có một môn võ của dân tộc nào trên thế giới có được, để con cháu đời sau có nhìn nhận đúng đắn về thế hệ ông cha, để khỏi phải tủi hổ về nền văn hóa võ thuật bị cho là đi vay mượn, để mỗi người dân Việt Nam đều có thể ngẩng cao đầu, mỗi khi có ai đó nhắc đến dân tộc Việt Nam. Để mãi mãi, mỗi người dân Việt dù là ở đâu, đều có thể ngẩng cao đầu, hãnh diện nói: “Tôi là người Việt Nam!” với bạn bè thế giới.

Về võ học, cũng như các học thuật từ xưa tới nay, có hằng trăm môn phái, tựa như một rừng hoa, mỗi hoa một vẻ, một hương sắc riêng, hoa nào cũng có những công dụng riêng biệt, chỉ hiềm con người có xử dụng đúng theo tính năng, tác dụng sẵn có của nó hay không mà thôi .Võ thuật cũng như vậy, môn nào, phái nào,dòng võ, hệ phái nào cũng có những điều hay, vẻ đẹp, lối luyện tập, bài bản riêng biệt cùng các tuyệt kỹ công phu lừng danh thiên hạ nếu không phải như vậy thì sao lại tồn tại phát triển đến ngay nay. Sự tồn tại và phát triển đó chẳng phải là những minh chứng hùng hồn sao?

Võ Lâm Việt Nam cũng vậy, trải qua hàng nghìn năm với những biến động thăng trầm của dòng thời gian, những biến cố lịch sử, những dâu bể của cuộc đời con người, những lạnh nhạt của thời thế, những hờ hững của lòng người. Võ thuật một thời dựng nước, giữ nước hữu dụng của tổ tiên xưa tưởng chừng đã bị quên lãng. Nhưng có một điều may mắn cho dân tộc là, võ thuật vẫn âm thầm lưu chuyển theo dòng thời gian trong dân gian, tuy nhiên việc lưu truyền đó cũng khó tránh khỏi những mất mát, rơi rụng, sai lạc, bởi không có sách vở ghi chép lại làm bản gốc, hơn nữa việc truyền dạy võ thuật trong dân gian lại mang đậm tính chất truyền khẩu, bí truyền, gia truyền chỉ truyền dạy cho anh em, con cháu trong dòng tộc, không dạy cho người ngoài, lối dạy truyền tay này dẫn đến tình trạng dạy gì biết nấy, bảo sao nghe vậy, cứ học sao dậy vậy chẳng cần biết đúng sai, người này truyền người kia, đời nối đời, cứ như vậy kế tục nhau thì tránh sao khỏi nhiều điều sai lạc, thảng hoặc có người có tuệ duyên muốn tìm hiểu kỹ, để lưu truyền cho hậu thế, thì cũng chẳng có một sách vở nào có thể lấy làm căn nguyên, cội nguồn, biết căn cứ vào đâu để tìm hiểu, nghiên cứu, thảng cũng có vài sách ghi chép, mang tính tự phát trong các dòng tộc, nhưng lại mang tính bí truyền. Như vậy thì biết lấy gì mà tham cứu, nói chi đến việc phát triển?

Theo: Mai Quốc Vĩnh (ST)