Ai Cũng Thở

  • 05/10/2020
  • 47

Hơi thở có ý thức sẽ tạo ra trạng thái tỉnh giác. Khi có tỉnh giác rồi, hành giả lại dễ bị khuynh hướng bám lấy cái tỉnh giác, bớt biết rõ hơi thở. Tỉnh giác là quả, hơi thở có ý thức là nhân. Bỏ nhân để cầu quả thì quả đó sẽ hết. Khi chạy theo trạng thái tỉnh giác mà ít để ý kỹ hơi thở thì chẳng bao lâu cái trạng thái tỉnh giác đó cũng mất, hành giả bị lui sụt công phu lại giống như ban đầu.

Ai cũng đang thở, nhưng mỗi người sẽ thở khác nhau.
Người lo lắng bất an sẽ thở một cách mệt mõi, nặng nề.
Người vui sướng hào hứng sẽ thở một cách dồn dập.
Người suy tính mưu toan sẽ thở một cách trì trệ.
Người khỏe mạnh thở thong dong, người yếu ớt thở đứt quãng.
Người có phước thở hào sảng, người kém phước thở vất vả.
Người có đạo đức thở vững vàng, người ích kỷ độc ác thở mong manh.

Muốn vào thiền thì phải có 3 loại hơi thở thong dong của người khỏe mạnh, hơi thở hào sảng của người có phước, và hơi thở vững vàng của người có đạo đức. Sau đó hành giả sẽ bước vào hơi thở của thiền, thở có ý thức.

Vì thế người tu thiền trước phải tập khí công cho khỏe mạnh, phải làm phước dồi dào, phải tu dưỡng đạo đức thẳm sâu. Khí công phải tập mãi không có giới hạn mức độ hay thời gian, phước phải làm mãi không có giới hạn số lượng hay thể loại, đạo đức phải hoàn thiện hướng về vô ngã. Ba yếu tố Khí lực, Công đức, Đạo đức phải tích lũy đến vô hạn, không bao giờ tự cho là đã đủ.

Hơi thở của thiền là hơi thở có ý thức, thở mà biết rõ.

Hơi thở của thiền cũng không cho phép ta điều khiển hơi thở, nhất là rất cấm kỵ thở cho nhiều, thở cho dài. Ta phải đủ thông minh để biết hơi thở vào như thế nào là được rồi, để không cố gắng thở thêm chút nữa. Đa phần người tu tập phép hơi thở bị sai ở chỗ gắng thở nhiều, tưởng rằng thở nhiều là sẽ mau đắc đạo hơn, đâu ngờ, thở nhiều sẽ bế tắc.

Bài học về hơi thở không nhiều này cho ta cái nhìn về nhiều điều khác trong cuộc sống. Ai muốn nhiều, muốn vội, muốn nhanh, hầu như đều thất bại. Ta muốn học mau giỏi, muốn rèn luyện mau thành tài, muốn làm ăn mau giàu, muốn được nhiều người kính phục, muốn danh tiếng lan xa… đều là dấu hiệu của sự tan vỡ.

Hơi thở có ý thức cũng đòi hỏi ta phải cảm giác toàn thân… Nếu ta không cảm giác toàn thân, khi tâm yên lắng, ta sẽ bị để ý lên phần trên nhiều, nhất là để ý trên đầu nhiều. Khi tâm hơi yên, để ý trên đầu sẽ tạo ra cảm giác hỷ lạc khoan khoái mạnh hơn, gần giống như dùng thuốc gây nghiện vậy. Cảm giác sảng khoái này sẽ khiến ta tự tin mình đã đi đúng đường nên có kết quả tốt đẹp như thế, nên an lạc như thế. Nhưng để ý trên đầu khiến cho chân âm bốc lên cạn dần, tuyến yên hư dần, cuối cùng chấm dứt bằng một trong hai tình trạng như sau: một là rơi vào bệnh tâm thần mà người xưa hay gọi là tẩu hỏa nhập ma, hai là không bị tâm thần nhưng mất hết thiền định.

Dù tâm yên dần, cái biết muốn chuyển dần lên đầu, ta vẫn cố gắng biết nhiều ở dưới. Nhờ vậy mà ta không bị mất chân âm, giữ được nguyên khí ở dưới làm cân bằng nội khí của cơ thể.

Mới ban đầu khi ta thở có ý thức như thế, thở mà biết rõ hơi thở ra vào, thở mà không cho thở nhiều, không cho thở dài, và thường thì hơi thở vào sẽ ngắn hơn hơi thở ra. Tuy hít vào ngắn nhưng lượng không khí vẫn đủ, nên khi thở ra sẽ dài hơn mấy lần mà vẫn ổn định. Sai lầm nhất là cố gắng hít vào cho nhiều, vì sẽ gây rối loạn cơ thể.

Ta sẽ vẫn bị vọng tưởng dù thở đúng, nhưng không sao, chẳng bao lâu ta sẽ cảm nghe vọng tưởng yên dần, nội tâm tỉnh sáng dần. Nhớ là đừng sốt ruột rồi loay hoay đổi qua đổi lại hư hết.

Nếu tập hơi thở như thế, có khi ta sẽ được định tĩnh chẳng bao lâu, nhưng, chỗ này chưa là gì cả, thẳm sâu bên trong ta vẫn còn rất nhiều lỗi lầm cố chấp. Đó là lý do ta phải có thời gian tư duy quán chiếu về sự vô thường của cơ thể, về ý nghĩa vô ngã của thân và tâm. Tâm có định thì có, nhưng thật ra ta vẫn còn lầm chấp đủ thứ, nhưng ta cứ tưởng mình cao siêu rồi nên kiêu mạn khởi dần lên, rất nguy hiểm.

Khi ta có được sự định tĩnh rồi thì nhiều trạng thái lạ hiện ra. Ánh sáng, toàn thân bao phủ khí lực, thấy bên trong cơ thể, người nhẹ như ở trên mây… Tất cả các trạng thái đó đều “dụ” ta lìa khỏi hơi thở và toàn thân.

Hành giả phải khôn ngoan đừng quan tâm đến các trạng thái đó, mà phải giữ kỹ hơi thở, nghĩa là phải biết rõ hơi thở ra vào.

Khi tập thở có ý thức như vậy, ta sẽ có được một nguồn sức mạnh mới, êm nhẹ, lưu chuyển trong cơ thể để cải tạo tạng phủ cơ thể lại. Những bệnh tiềm ẩn mạn tính tự nhiên hết dần hồi nào không hay. Nếu có duyên, ta cũng sẽ thành tựu nội lực kỳ lạ phi thường.

Ai tập quen hơi thở có ý thức đó rồi sẽ tự tin và thích thú, bất cứ thời gian nào trong ngày, hễ áp dụng được là thực hành liền, vì làm cho thân và tâm dễ chịu. Dần dần khi làm việc bận rộn, nhưng ta cứ cố gắng nhớ toàn thân, rồi hơi thở hiện ra, và ta bám theo hơi thở luôn.

Nhưng đây là điều quan trọng, khi có tỉnh giác như thế, ta phải âm thầm nhắc chính mình, chẳng có gì là ta, thân chẳng phải là ta, tâm chẳng phải là ta. Thở vào, hiểu rõ chẳng có gì là ta; thở ra, hiểu rõ chẳng có gì là ta. Phải tác ý gắn hơi thở vào để đừng lìa hơi thở. Nếu không gắn hơi thở vào, ta sẽ thích thú với tác ý quán chiếu đó mà ít để ý đến hơi thở. Thở vào, nhớ thân này vô thường; thở ra, nhớ thân này vô thường.

- Thở vào, hiểu ta còn nhiều lỗi lầm; thở ra, hiểu ta còn nhiều lỗi lầm.
- Thở vào, cảm giác biết rõ toàn thân; thở ra, cảm giác biết rõ toàn thân.
- Thở vào, nguyện lòng tôn kính Phật tuyệt đối; thở ra, nguyện lòng tôn kính Phật tuyệt đối.
- Thở vào, nguyện yêu thương tất cả chúng sinh; thở ra, nguyện yêu thương tất cả chúng sinh.

Tuy nhiên, nếu ai trước khi vào thiền đã tác ý ba tâm hạnh Tôn kính Phật, Từ bi và Khiêm hạ rồi thì khỏi, chỉ cần tác ý “chẳng có gì là ta” là được.

Ta nhắc lại, hơi thở của thiền là thở có ý thức là thở mà biết rõ từng hơi thở ra từng hơi thở vào. Nhưng tuyệt nhiên không phải là thở cho nhiều, hay thở cho sâu gì cả. Hơi thở tự nhiên có ý thức đó sẽ có hiện tượng là hơi vào lấy rất ít thời gian, mà hơi ra mới dài.

Hơi thở có ý thức sẽ tạo ra trạng thái tỉnh giác. Khi có tỉnh giác rồi, hành giả lại dễ bị khuynh hướng bám lấy cái tỉnh giác, bớt biết rõ hơi thở. Tỉnh giác là quả, hơi thở có ý thức là nhân. Bỏ nhân để cầu quả thì quả đó sẽ hết. Khi chạy theo trạng thái tỉnh giác mà ít để ý kỹ hơi thở thì chẳng bao lâu cái trạng thái tỉnh giác đó cũng mất, hành giả bị lui sụt công phu lại giống như ban đầu.

Vì thế, dù cho có những kết quả thú vị nào hiện ra, hành giả vẫn phải khôn ngoan biết rõ hơi thở để giữ cái gốc, để giữ cái nhân, thì cái kết quả kia sẽ bền vững hơn.

Thiền có kết quả là do phước quá khứ. Hết phước thì thiền cũng lui sụt. Vì vậy hành giả tu thiền phải siêng làm phước đến vô tận để thành tựu thiền đến vô tận. Phước là gốc của thiền là thế.

Theo: Mai Quốc Vĩnh (ST)